Hiện nay, công tác quản lý tài sản nhà nước đã được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo rất chặt chẽ. Tại Điều 17 Hiến pháp năm 1992: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn do nhà nước đầu tư vào xí nghiệp, công trình thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là tài sản nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân. Vấn đề đặt ra, chúng ta phải quản lý nguồn tài sản nhà nước như thế nào để đảm bảo vai trò quan trọng là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân.
Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998 của Chính phủ về quản lý tài sản nhà nước ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong công tác quản lý tài sản nhà nước. Những nguyên tắc quản lý tài sản nhà nước trong Nghị định này là khung pháp lý cơ bản nhằm điều chỉnh các nội dung liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Nhờ đó, công tác quản lý tài sản nhà nước bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng.
Việc ban hành và tổ chức thực hiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật giúp cho việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước từng bước đi vào nề nếp, kỷ cương, kỷ luật, công khai minh bạch và có hiệu quả.
Để phục vụ cho công tác tổng hợp số liệu về tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước phục vụ báo cáo Quốc hội:
+ Những năm trước đây, theo phương pháp truyền thống định kỳ hàng năm các Bộ, ngành cơ quan trung ương và địa phương kiểm kê và tổng kiểm kê tập hợp số liệu gửi báo cáo về Bộ Tài chính bằng hình thức báo cáo giấy. Trên cơ sở đó Bộ tổng hợp và báo cáo Chính phủ. Tuy nhiên, phương pháp này gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tổng hợp số liệu, thông tin không kịp thời dẫn đến hiệu quả quản lý không cao. Vấn đề đặt ra phải ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tin học hoá công tác quản lý tài sản.
+ Đến cuối năm 1997, Bộ Tài chính triển khai Chương trình tổng kiểm kê tài sản nhà nước đây là phần mềm đầu tiên về quản lý tài sản. Theo đó, toàn bộ tài sản nhà nước của các cơ quan, đơn vị, tổ chức được quản lý, theo dõi và hạch toán bằng công cụ phần mềm tin học hoá (báo cáo tài sản qua đĩa mềm). Trên cơ sở đó, Nhà nnước nắm được tổng quan về số lượng, giá trị và cơ cấu phân bố sử dụng tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp và tài sản nhà nước trong các doanh nghiệp. Các Bộ, ngành và địa phương đã bước đầu kiểm soát được việc sử dụng tài sản công, hạn chế việc sử dụng không đúng mục đích, sử dụng lãng phí, thất thoát tài sản.
Bên cạnh những mặt đạt được, công tác quản lý tài sản nhà nước theo quy định trước đây còn phân tán, chưa đầy đủ, đồng bộ, chưa bao quát hết các quan hệ về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và hiệu lực pháp lý còn thấp. Các cơ quan nhà nước chưa chủ động trong công tác quản lý, theo dõi sát thực trạng và biến động của tài sản nhà nước. Tình hình sử dụng tài sản nhà nước sai mục đích, sai tiêu chuẩn, định mức gây lãng phí xảy ra khá phổ biến ở các lĩnh vực, các cơ quan, tổ chức. Việc quản lý nhà nước chuyên ngành về tài sản nhà nước thực tế còn nhiều hạn chế, bị động và thiếu tính chuyên nghiệp. Vấn đề đặt ra cần phải có một khuôn khổ chính sách và pháp luật có hiệu lực pháp lý cao và đồng bộ.
Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được Quốc hội ban hành ngày 3/6/2008 đã tạo ra một bước chuyển mới. Việc mua sắm trang bị tài sản nhà nước được theo dõi chặt chẽ hơn, đúng tiêu chuẩn, định mức và chế độ quy định, tài sản nhà nước được trang bị đúng mục đích, chống lãng phí, thất thoát. Đồng thời nâng cao nhận thức về trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước. Thông tư số 245/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ Tài chính Quy định thực hiện một số nội dung của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP. Một hệ thống hành lang pháp lý về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp được hoàn chỉnh. Là kim chỉ nam cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong công tác quản lý, sử dụng tài sản công một cách tiết kiệm, hiệu quả và đúng mục đích. Tại Điều 7, Điều 8 Luật Quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước và Điều 33, Điều 34 của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP quy định Hằng năm Chính phủ báo cáo Quốc hội về tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.
+ Cùng với sự phát triển của ứng dụng công nghệ thông tin, kế thừa và phát huy Chương trình kiểm kê tài sản năm 1998, ngày 02/3/2009, Bộ Tài chính đã ký Quyết định số 411/QĐ – BTC về việc thống nhất triển khai áp dụng Chương trình quản lý đăng ký tài sản nhà nước phiên bản 1.0 tại các Bộ, ngành cơ quan Trung ương và địa phương để đăng ký quyền quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.
Chương trình đăng ký tài sản nhà nước cơ sở dữ liệu tập trung tại Bộ Tài chính. Các Sở Tài chính là đầu mối nhập thông tin đăng ký tài sản thông qua giao diện Website qua kênh hạ tầng truyền thông của ngành. Các Bộ, ngành cơ quan Trung ương nhập thông tin qua Internet (cơ sở dữ liệu tập trung tại Bộ Tài chính). Danh mục đơn vị trong chương trình sử dụng thống nhất với danh mục đơn vị có quan hệ ngân sách thực hiện theo Quyết định số 888/QĐ/BTC của Bộ Tài chính. Ngoài ra, Chương trình còn bao quát cả các đơn vị không có quan hệ ngân sách nhà nước nhưng vẫn sử dụng tài sản nhà nước; đảm bảo tính đồng bộ số liệu, phân cấp quản lý. Để có thể đăng nhập vào được chương trình, mỗi đơn vị được Bộ Tài chính cấp tên người dùng và yêu cầu đơn vị xác nhận thông tin cán bộ chịu trách nhiệm trong việc bảo mật an toàn dữ liệu tài sản của đơn vị.
Chương trình đăng ký tài sản nhà nước ra đời là công cụ đắc lực giúp cho công tác quản lý tài sản được hiệu quả.
Bản quyền thuộc Trung tâm Khai thác dữ liệu Quốc gia về tài sản Nhà nước và dịch vụ về tài sản
Giấy phép số: 45/GP-TTĐT ngày: 30/03/2010 • Người chịu trách nhiệm: Nguyễn Tân Thịnh - Phó cục trưởng Cục Quản lý công sản . Địa chỉ
Số 28 Trần Hưng Đạo - Hoàn Kiếm - Hà Nội Điện thoại: 04.22202828 / Fax: 04.22202859 • Email: taisancong@mof.gov.vn