Xây dựng thước đo cho mô hình phát triển mới

Thước đo thành công của mô hình phát triển mới không chỉ là tốc độ tăng GDP, mà là năng suất, giá trị gia tăng, chất lượng việc làm, môi trường và chất lượng cuộc sống của người dân. Cùng với việc thay đổi thước đo là yêu cầu chuyển từ quản lý theo ngành, theo thủ tục sang quản trị “bài toán phát triển” và kết quả đầu ra.

Đây là những nội dung xuyên suốt trong bản Kiến nghị chính sách của Đại học Kinh tế Quốc dân mới đây nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam và Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 217/NQ-CP ngày 6/8/2026.

GDP không phải thước đo duy nhất

Từ Hội thảo quốc gia “Phát triển nền kinh tế Việt Nam: Thực trạng và định hướng trong kỷ nguyên mới”, do Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản, Đại học Kinh tế Quốc dân và Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức mới đây, các chuyên gia đã thống nhất rằng đổi mới mô hình phát triển đồng thời phải là đổi mới tư duy, cách phân bổ nguồn lực, mô hình doanh nghiệp, phương thức quản trị và thước đo thành công.

Xây dựng thước đo cho mô hình phát triển mới
Chế biến tôm xuất khẩu tại Nhà máy Thủy sản Minh Phú. Ảnh: Đức Thanh

Trong đó, yêu cầu đầu tiên là thống nhất lại cách hiểu về phát triển. Theo phân tích của GS. Ngô Thắng Lợi, phát triển kinh tế nhằm gia tăng thu nhập, tạo dựng và phát triển tiềm lực kinh tế của đất nước; còn phát triển xã hội nhằm không ngừng cải thiện tiến bộ xã hội cho con người. Trong mối quan hệ đó, nâng cao mức sống dân cư, phát triển con người, xóa đói giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội là mục tiêu cuối cùng; tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người là điều kiện cần để thực hiện mục tiêu ấy.

Từ cách tiếp cận này, Đại học Kinh tế Quốc dân kiến nghị xây dựng một bảng theo dõi cân bằng với ít nhất 5 nhóm chỉ tiêu: năng suất và giá trị gia tăng; chất lượng việc làm và thu nhập; tiếp cận dịch vụ xã hội; chất lượng môi trường và khả năng chống chịu; niềm tin, mức độ hài lòng và cơ hội tham gia của người dân.

Thay đổi thước đo phát triển cũng đồng nghĩa với thay đổi cách xây dựng, tổ chức và đánh giá chính sách. Do vậy, kiến nghị của các chuyên gia chuyển từ quản lý đầu vào và thủ tục sang quản trị theo kết quả. Mỗi nhiệm vụ phải có một đầu mối chịu trách nhiệm, mốc thời gian, nguồn lực, sản phẩm đầu ra và chỉ số công khai.

Đến năm 2030, mỗi mục tiêu cần có đường cơ sở của năm 2026 và kết quả theo dõi hằng năm. Các chỉ số nên tập trung vào năng suất lao động, giá trị gia tăng trong nước, đầu tư R&D của doanh nghiệp, doanh thu từ sản phẩm mới, thời gian ra quyết định, chi phí tuân thủ, việc làm kỹ năng cao, mức độ tiếp cận số, giảm phát thải, chất lượng thoát nghèo và mức độ hài lòng.

Đặc biệt, các chuyên gia lưu ý không nên dùng số lượng hội nghị, đề án, nền tảng hoặc doanh nghiệp “được hỗ trợ” làm chỉ số cuối cùng.

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cũng phải có điều kiện, có thời hạn và dựa trên kết quả về năng suất, R&D, nội địa hóa, phát triển nhà cung cấp và giảm phát thải. Hỗ trợ không được tạo ra đặc quyền lâu dài; ưu đãi phải có vốn đối ứng, cam kết, kiểm chứng và cơ chế thu hồi nếu không đạt mục tiêu.

Xây dựng thước đo cho mô hình phát triển mới
Đồ họa: Phương Anh

Quản trị theo “bài toán phát triển”

Một kiến nghị quan trọng nữa là chuyển từ tư duy ngành riêng lẻ sang quản trị vấn đề phát triển. Hiện nay, nhiều vấn đề mới đã vượt qua ranh giới bộ, ngành và địa phương. Một chuỗi bán dẫn liên quan đồng thời đến đầu tư, công nghiệp, giáo dục, khoa học, năng lượng, dữ liệu, logistics và ngoại giao kinh tế. Phát triển công nghiệp văn hóa liên quan đến văn hóa, công nghệ, sở hữu trí tuệ, tài chính, du lịch, giáo dục và thương mại. Giảm nghèo bền vững liên quan đến sinh kế, đào tạo, y tế, nhà ở, dữ liệu, khí hậu và an sinh.

Các chuyên gia cho rằng, đối với đầu tư công, hiệu quả cần được đánh giá bằng khả năng giảm thời gian và chi phí vận chuyển, mở ra không gian phát triển, tăng kết nối và sức chống chịu. Mỗi dự án lớn phải có đánh giá tổng chi phí vòng đời và phương án vận hành sau đầu tư, thay vì chỉ chú trọng hoàn thành công trình và giải ngân vốn.

Nếu mỗi cơ quan chỉ tối ưu phần việc của mình, kết quả chung có thể bị chia cắt. Vì vậy, các chuyên gia kiến nghị tổ chức điều phối theo "bài toán phát triển” hoặc chuỗi giá trị, có một cơ quan chủ trì và cơ chế phối hợp bắt buộc. Theo TS. Nguyễn Sỹ Dũng, các địa phương cần được phân quyền đủ mạnh trong những việc họ có thông tin tốt hơn, trong khi Trung ương tập trung vào chiến lược, tiêu chuẩn, điều phối liên vùng và giám sát kết quả. Phân quyền phải đi đồng bộ với nguồn lực, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực.

Cùng với đó, thiết lập ban điều phối hoặc cơ chế điều phối liên ngành đủ thẩm quyền nhưng không tạo thêm tầng thủ tục. Việc đánh giá cần được thực hiện ở ba mốc: hằng năm để điều chỉnh vận hành; giữa kỳ để điều chỉnh chương trình; cuối kỳ để quyết định nhân rộng hoặc dừng. Các chương trình không đạt mục tiêu phải được điều chỉnh hoặc dừng, không kéo dài chỉ vì đã có bộ máy và ngân sách.

Hạn chế cốt lõi hiện nay không hẳn là Việt Nam thiếu nguồn lực tuyệt đối, mà là khả năng chuyển hóa nguồn lực thành kết quả. Dự án chậm, phối hợp nhiều tầng, quy định khó dự báo, nghiên cứu không đi ra thị trường và lao động không khớp kỹ năng đều làm giảm “năng suất thể chế”. Chỉ bổ sung vốn có thể làm tăng quy mô nhưng chưa chắc nâng được chất lượng.

Vì vậy, thay đổi thước đo không phải công việc mang tính kỹ thuật thống kê. Thước đo nào được lựa chọn sẽ chi phối mục tiêu điều hành, cách phân bổ ngân sách, lựa chọn dự án và trách nhiệm của cơ quan thực thi.

Cụ thể hóa Nghị quyết 19, do đó, cần bắt đầu từ việc chuyển mục tiêu đổi mới thành thành những nhiệm vụ có đầu mối, thời hạn, nguồn lực và thước đo cụ thể. Khi kết quả cuối cùng là những chuyển biến mà người dân và doanh nghiệp cảm nhận được, các mục tiêu về năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo hay chất lượng thể chế mới thoát khỏi phạm vi của những chỉ tiêu riêng lẻ để trở thành một mô hình phát triển mới.

Theo dõi 8 nhóm chỉ số cảnh báo sớm

Nghị quyết 19/NQ-TW đã đưa ra quan điểm đổi mới mô hình phát triển đất nước, theo đó nền kinh tế Việt Nam sẽ đạt mục tiêu trở thành nước có mức thu nhập cao (vào năm 2045) dựa trên tăng trưởng nhanh, hiệu quả gắn với đạt được trình độ cao về tiến bộ xã hội.

Vì thế, đứng trên góc độ tác động tăng trưởng kinh tế đến thực hiện tiến bộ xã hội, trong thời gian tới (đến 2030), hơn bao giờ hết Việt Nam cần hướng tới thực hiện con đường phát triển toàn diện ở mức độ cao và đồng bộ.

Trong quá trình đó, các chuyên gia tại hội thảo kiến nghị theo dõi thường xuyên tám nhóm tín hiệu gồm: suy giảm năng suất; giảm tỷ lệ giá trị trong nước; lệch pha kỹ năng; gia tăng chi phí tuân thủ và độ trễ; tập trung thị trường; mở rộng khoảng cách số - xanh; suy giảm tài nguyên và khả năng chống chịu; suy giảm niềm tin và mức độ hài lòng. Khi tín hiệu vượt ngưỡng, cơ quan chủ trì phải công bố phân tích nguyên nhân và phương án điều chỉnh.

Đối với các dự án công nghệ và công nghiệp chiến lược, cần có tiêu chí dừng để tránh kéo dài chương trình kém hiệu quả. Đối với chính sách xã hội, cần theo dõi tái nghèo, chất lượng việc làm và khả năng tiếp cận dịch vụ, không chỉ tỷ lệ nghèo. Đối với văn hóa, cần đo mức tham gia, thu nhập sáng tạo, bản quyền và chất lượng môi trường văn hóa, không chỉ số sự kiện.

Hoàng Yến

Tin khác

Thành phố Quảng Ninh hướng tới nguồn thu bền vững

Thành phố Quảng Ninh hướng tới nguồn thu bền vững

Thu ngân sách vượt tiến độ nhưng bài toán dài hạn của Quảng Ninh không chỉ nằm ở quy mô nguồn thu, mà còn ở khả năng duy trì sự ổn định qua từng năm. Với 73.031 tỷ đồng thu ngân sách sau 8 tháng năm 2026, thành phố đang tiếp tục củng cố các nguồn thu gắn với doanh nghiệp, sản xuất công nghiệp, thương mại, logistics và những ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao.
Infographics: Tình hình thực hiện, giải ngân các dự án phục vụ hội nghị APEC 2027

Infographics: Tình hình thực hiện, giải ngân các dự án phục vụ hội nghị APEC 2027

Theo Bộ Tài chính, tổng số dự án triển khai phục vụ Hội nghị APEC 2027 tại đặc khu Phú Quốc theo Quyết định số 948/QĐ-TTg ngày 17/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ là 21 dự án. Trong đó có 10 dự án sử dụng vốn đầu tư công; 11 dự án còn lại được thực hiện theo phương thức đối tác công tư (PPP) và đầu tư kinh doanh.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Infographics: Giải ngân các dự án quan trọng quốc gia đạt hơn 95.445 tỷ đồng

Infographics: Giải ngân các dự án quan trọng quốc gia đạt hơn 95.445 tỷ đồng

Theo báo cáo từ Bộ Tài chính, lũy kế đến hết ngày 31/8/2026, các dự án giao thông trọng điểm giải ngân được 95.445,1 tỷ đồng, đạt 38% kế hoạch vốn đã phân bổ. Trong đó, vốn ngân sách trung ương đạt 32,6% kế hoạch; vốn ngân sách địa phương đạt 55,4% kế hoạch.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn làm việc với Tổng Thư ký OECD, thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn làm việc với Tổng Thư ký OECD, thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện

Ngày 11/9/2026, tại Paris (Cộng hòa Pháp), Bộ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam Ngô Văn Tuấn đã có cuộc làm việc song phương với Tổng Thư ký Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) Mathias Cormann.
Bộ Tài chính Việt Nam và Nghiệp đoàn giới chủ Pháp thúc đẩy hợp tác doanh nghiệp Việt - Pháp

Bộ Tài chính Việt Nam và Nghiệp đoàn giới chủ Pháp thúc đẩy hợp tác doanh nghiệp Việt - Pháp

Ngày 10/9/2026 (theo giờ địa phương), tại Paris, Bộ Tài chính Việt Nam và Nghiệp đoàn giới chủ Pháp (MEDEF International) đồng tổ chức Diễn đàn Lãnh đạo doanh nghiệp Việt - Pháp.
Việt Nam không chỉ là thị trường phân bổ vốn, mà còn là đối tác chiến lược của nhà đầu tư Anh Quốc

Việt Nam không chỉ là thị trường phân bổ vốn, mà còn là đối tác chiến lược của nhà đầu tư Anh Quốc

Tại sự kiện Ngày Thị trường vốn Việt Nam 2026 ở Luân Đôn, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi khẳng định Việt Nam sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng minh bạch, công bằng, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường; đồng thời kỳ vọng các nhà đầu tư Vương quốc Anh coi Việt Nam không chỉ là thị trường phân bổ vốn mà còn là đối tác chiến lược trong phát triển các sản phẩm, dịch vụ tài chính tương lai.
Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước Việt Nam – Lào: Thắt chặt hợp tác tài chính chuyên sâu và thực chất

Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước Việt Nam – Lào: Thắt chặt hợp tác tài chính chuyên sâu và thực chất

Chiều ngày 11/9/2026, tại trụ sở Bộ Tài chính Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn đã có buổi tiếp xã giao Đoàn công tác Bộ Tài chính và Kho bạc Nhà nước Lào do Thứ trưởng Phouvong Kittavong làm trưởng đoàn.
Bộ Tài chính và AFD trao biên bản thỏa thuận vay và viện trợ trị giá hơn 41 triệu EUR

Bộ Tài chính và AFD trao biên bản thỏa thuận vay và viện trợ trị giá hơn 41 triệu EUR

Chiều 10/9 (giờ địa phương), tại Điện Élysée, Paris, dưới sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Cộng hòa Pháp Emmanuel Macron, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn và Tổng Giám đốc Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) Christophe Lecourtier đã trao Thỏa thuận vay, Thỏa thuận viện trợ.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn hội đàm với Bộ trưởng Roland Lescure

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn hội đàm với Bộ trưởng Roland Lescure

Ngày 10/9/2026, tại Paris (Cộng hòa Pháp), Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã hội đàm với Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Tài chính, Chủ quyền công nghiệp và Kỹ thuật số Pháp Roland Lescure nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế, tài chính giữa hai nước.
Xem thêm
Phiên bản di động