5 năm thực hiện rà soát diện tích trụ sở một lần

Diện tích trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp sẽ được xác định và ổn định theo từng chu kỳ 5 năm. Trong thời gian này, phần diện tích vượt tiêu chuẩn, định mức vẫn có thể được tiếp tục sử dụng trong một số trường hợp, nhưng không được tính vào diện tích để xác định định mức của đơn vị.

Đây là một trong những nội dung được bổ sung tại Nghị định số 369/2026/NĐ-CP (NĐ 369) vừa được Chính phủ ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2025/NĐ-CP quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp. NĐ 369 có hiệu lực thi hành từ ngày 11/11/2026.

Không để diện tích vượt định mức “đi theo” đơn vị mới

Theo quy định mới, tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích làm việc phục vụ công tác được xác định theo từng chức danh, chức vụ. Trường hợp một người đồng thời giữ nhiều chức danh, chức vụ thì áp dụng tiêu chuẩn, định mức cao nhất.

Diện tích làm việc phục vụ công tác các chức danh, diện tích sử dụng chung, diện tích chuyên dùng và diện tích công trình sự nghiệp được xác định theo kích thước thông thủy theo quy định của pháp luật. Khi tính diện tích không bao gồm cầu thang, thang máy, thang thoát hiểm, ram dốc, nhà để xe, tường bao, tường phân chia phòng làm việc, diện tích sàn có cột, hộp kỹ thuật và một số phần diện tích khác theo quy định.

5 năm thực hiện rà soát diện tích trụ sở một lần
Theo quy định mới, tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích làm việc phục vụ công tác được xác định theo từng chức danh, chức vụ. Trường hợp một người đồng thời giữ nhiều chức danh, chức vụ thì áp dụng tiêu chuẩn, định mức cao nhất. Ảnh minh họa: H.T

Tiêu chuẩn, định mức để thực hiện giao, điều chuyển được xác định trên tổng diện tích các loại diện tích này và tính cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng tài sản công. Trường hợp một đơn vị được giao quản lý, sử dụng nhiều trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp thì tiêu chuẩn, định mức được tính trên tổng diện tích của toàn bộ các trụ sở, cơ sở được giao.

Đáng chú ý, Nghị định 369 bổ sung Điều 3a về rà soát trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp theo tiêu chuẩn, định mức và xử lý phần diện tích lớn hơn tiêu chuẩn, định mức.

Quy định này đặc biệt được đặt ra trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia tách hoặc chấm dứt hoạt động. Khi đó, cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận phải tiếp nhận nguyên trạng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp và trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày tiếp nhận phải rà soát để xử lý.

Nếu diện tích phù hợp với tiêu chuẩn, định mức hoặc phần diện tích vượt không quá 300 m², cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, quyết định giao quản lý, sử dụng. Phần diện tích vượt trong trường hợp này không được tính vào diện tích của đơn vị tiếp nhận khi xác định tiêu chuẩn, định mức.

Với phần diện tích vượt trên 300 m², cách xử lý được đặt theo hướng tìm đơn vị khác có nhu cầu. Cơ quan tiếp nhận phải công khai thông tin trong thời hạn 30 ngày. Sau đó, trong 30 ngày tiếp theo, thực hiện rà soát, lựa chọn đơn vị phù hợp theo thứ tự ưu tiên.

Nếu không có đơn vị tiếp nhận, cơ quan, tổ chức, đơn vị báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét giao nguyên trạng. Phần diện tích vượt vẫn không được tính vào tiêu chuẩn, định mức của đơn vị, nhưng được sử dụng ổn định đến kỳ rà soát 5 năm tiếp theo.

Đối với trường hợp giao, điều chuyển trụ sở không thuộc diện sáp nhập, hợp nhất, chia tách hoặc chấm dứt hoạt động, Nghị định cũng quy định thời hạn rà soát và cơ chế xử lý tương ứng. Riêng trường hợp điều chuyển do thay đổi cơ quan quản lý, cơ cấu tổ chức hoặc phân cấp quản lý, đơn vị tiếp nhận phải rà soát trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày tiếp nhận.

Định mức được giữ ổn định trong 5 năm

Một điểm mới khác là tiêu chuẩn, định mức trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp được xác định theo kỳ ổn định 5 năm, thay vì liên tục rà soát theo từng biến động.

Theo Điều 3b được bổ sung, việc rà soát được thực hiện một lần trong mỗi kỳ 5 năm.

Kỳ rà soát đầu tiên được thực hiện trong quý I/2027, với số liệu được chốt tại ngày 1/1/2027. Các kỳ tiếp theo thực hiện trong quý I của năm đầu tiên của mỗi kỳ rà soát, lấy số liệu tại ngày 1/1 của năm đầu tiên để áp dụng kết quả kể từ thời điểm này.

Nghị định cũng tránh việc một đơn vị vừa rà soát, xử lý xong lại phải thực hiện ngay một đợt rà soát mới. Theo đó, cơ quan, tổ chức, đơn vị đã hoàn thành việc rà soát, xử lý theo Điều 3a trong thời hạn 2 năm tính đến ngày 1/1 của năm đầu tiên của kỳ rà soát tiếp theo thì không phải rà soát trong kỳ đó. Kết quả rà soát trước được tiếp tục sử dụng trong thời gian ổn định còn lại.

Diện tích được ổn định trong kỳ bao gồm toàn bộ diện tích trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp đã được cơ quan, người có thẩm quyền quyết định giao quản lý, sử dụng. Trong đó bao gồm cả diện tích theo tiêu chuẩn, định mức và phần diện tích vượt tiêu chuẩn, định mức đã được cấp có thẩm quyền cho phép tiếp tục quản lý, sử dụng.

Tuy nhiên, phần diện tích vượt này không được cộng vào diện tích của cơ quan, tổ chức, đơn vị để xác định tiêu chuẩn, định mức.

Trong thời gian ổn định 5 năm, diện tích của cơ quan, tổ chức, đơn vị về nguyên tắc được giữ ổn định. Điều này tạo ra một khoảng thời gian đủ để đơn vị sử dụng, quản lý trụ sở theo phương án đã được cấp có thẩm quyền quyết định, thay vì phải thường xuyên xác định lại định mức.

Việc ổn định trong 5 năm không có nghĩa diện tích trụ sở được “đóng khung” trong mọi trường hợp.

Nghị định quy định một số trường hợp được rà soát, điều chỉnh trong thời gian ổn định. Đó là khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính; thay đổi chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức làm thay đổi tiêu chuẩn, định mức; phát sinh yêu cầu đặc thù về nhiệm vụ, chuyển đổi số, chuyển đổi công năng, quốc phòng, an ninh, bảo mật hoặc an toàn thông tin.

Ngoài ra, việc rà soát, điều chỉnh cũng được thực hiện khi có đơn vị khác có nhu cầu tiếp nhận phù hợp đối với phần diện tích vượt tiêu chuẩn, định mức.

Như vậy, cùng với việc xác lập một chu kỳ ổn định 5 năm, quy định mới vẫn giữ cơ chế xử lý đối với những biến động thực tế. Diện tích vượt tiêu chuẩn, định mức được nhận diện và xử lý theo từng trường hợp, thay vì mặc nhiên trở thành phần diện tích được tính vào định mức của đơn vị tiếp nhận.

Vân Hà

Tin khác

Infographics: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 52,9% kế hoạch Thủ tướng giao

Infographics: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 52,9% kế hoạch Thủ tướng giao

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, số vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước năm 2026 được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao 1.022.607 tỷ đồng. Lũy kế đến hết ngày 17/9/2026, cả nước giải ngân 540.597,2 tỷ đồng, đạt 52,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Hà Nội tạo chuyển biến thực chất trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Hà Nội tạo chuyển biến thực chất trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, đến nay, Hà Nội ghi nhận chuyển biến rõ trong quản trị bằng dữ liệu, phát triển sản phẩm công nghệ và mở rộng kinh tế số, từng bước đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng mới.
Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số

Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn khẳng định, việc thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa trưởng thành là nhiệm vụ hết sức quan trọng để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Kho bạc Nhà nước: Rút ngắn độ trễ, đưa vốn đầu tư công vào nền kinh tế

Kho bạc Nhà nước: Rút ngắn độ trễ, đưa vốn đầu tư công vào nền kinh tế

Giải ngân vốn đầu tư công không chỉ phụ thuộc vào tiến độ bố trí vốn, giải phóng mặt bằng hay thi công, mà còn ở thời gian hoàn thiện hồ sơ và thanh toán khi khối lượng đã hoàn thành. Với việc cải cách quy trình, tăng cường hướng dẫn và đẩy mạnh giao dịch số, Kho bạc Nhà nước đang tập trung rút ngắn thời gian xử lý, hạn chế độ trễ ở khâu thanh toán, để vốn đến công trình nhanh hơn.
Cần cấu trúc tài chính và dự án "đủ độ chín" để huy động nguồn lực cho chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam

Cần cấu trúc tài chính và dự án "đủ độ chín" để huy động nguồn lực cho chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam

Chuyển dịch năng lượng đòi hỏi tầm nhìn dài hạn và nguồn lực lớn. Tuy nhiên, thách thức đối với quá trình chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam hiện nay không nằm ở việc tìm kiếm nguồn vốn, mà là có các dự án “đủ độ chín” để hấp thụ nguồn vốn, xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro hài hòa, kết nối chính xác công cụ tài chính với từng dự án…
Gỡ điểm nghẽn cho hàng nghìn dự án tồn đọng

Gỡ điểm nghẽn cho hàng nghìn dự án tồn đọng

Hơn 3.200 dự án tồn đọng, kéo dài đã được xử lý, không còn khó khăn, vướng mắc; trong đó 842 dự án đã hoàn thành, đưa vào sử dụng. Với các dự án còn lại, các bộ, ngành, địa phương đang tiếp tục xử lý theo thẩm quyền hoặc đề xuất cơ chế, chính sách để tháo gỡ.
Mở rộng cơ hội hợp tác tài chính và thu hút vốn đầu tư bền vững giữa Việt Nam và Canada

Mở rộng cơ hội hợp tác tài chính và thu hút vốn đầu tư bền vững giữa Việt Nam và Canada

Ngày 25/9 (giờ địa phương), tại Thủ đô Ottawa, Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, tại thủ đô Ottawa, Bộ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam Ngô Văn Tuấn đã có cuộc gặp xã giao Bộ trưởng Tài chính Canada François-Philippe Champagne; làm việc với Lãnh đạo Cơ quan Phát triển Tài chính Canada (FinDev Canada).
Triển khai chấm điểm giải ngân vốn đầu tư công: Bộ Tài chính yêu cầu dữ liệu phải chính xác

Triển khai chấm điểm giải ngân vốn đầu tư công: Bộ Tài chính yêu cầu dữ liệu phải chính xác

Sau 2 tháng chấm điểm thử, Bộ Tài chính đề nghị các bộ, cơ quan trung ương và địa phương triển khai phương án chấm điểm thực hiện giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công theo Quyết định 1129/QĐ-TTg. Bộ Tài chính yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương chịu trách nhiệm về số liệu đăng ký giải ngân, bảo đảm dữ liệu cập nhật trên Hệ thống cơ sở dữ liệu tài chính đầy đủ, chính xác, thống nhất và sát với khả năng thực tế.
Hà Nội đề nghị kiểm toán trước các dự án trọng điểm

Hà Nội đề nghị kiểm toán trước các dự án trọng điểm

Hà Nội đề nghị Kiểm toán Nhà nước tăng cường phối hợp, hỗ trợ kiểm toán trước một số dự án trọng điểm, trong đó có 7 tuyến đường sắt đô thị đang triển khai và các dự án lớn thực hiện theo phương thức BT, nhằm góp phần bảo đảm nguồn lực tài chính, đất đai của Nhà nước được sử dụng hiệu quả, đúng quy định.
Đưa tài sản trí tuệ thành nguồn vốn: Cần cơ chế để chính sách đi vào thực tế

Đưa tài sản trí tuệ thành nguồn vốn: Cần cơ chế để chính sách đi vào thực tế

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đề xuất cho phép sử dụng tài sản trí tuệ để góp vốn, làm tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng, cùng nhiều chính sách phát triển thị trường và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, để cơ chế này đi vào thực tế, cần giải được bài toán định giá và làm rõ điều kiện bảo lãnh tín dụng.
Xem thêm
Phiên bản di động