Cải cách hành chính trong quản lý đất đai còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Nghị quyết số 18-NQ/TW đánh giá, chính sách, pháp luật về đất đai còn nhiều hạn chế, bất cập, chồng chéo, thiếu thống nhất, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, tạo kẽ hở để không ít cá nhân, tổ chức lợi dụng, tham nhũng, trục lợi, gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước.

Chính sách, pháp luật về đất đai đã có nhiều đổi mới

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa ký ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao”.

Nghị quyết đánh giá, sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, chính sách, pháp luật về đất đai đã có nhiều đổi mới, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu thực tiễn, từng bước tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý và sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả hơn.

Chính sách, pháp luật đất đai còn nhiều hạn chế, bất cập, thiếu thống nhất
Pháp luật về đất đai còn nhiều hạn chế, bất cập, chồng chéo, thiếu thống nhất, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý. Ảnh: TL

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thực hiện theo hướng tiếp cận tổng hợp, liên ngành và trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước thống nhất quản lý, phân bổ và sử dụng đất đai. Nguồn lực đất đai được khai thác, sử dụng hiệu quả hơn cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, tạo sự bình đẳng hơn giữa các chủ thể sử dụng đất; bước đầu khắc phục được tình trạng giao đất, cho thuê đất tuỳ tiện, tràn lan.

Việc giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm. Lợi ích của các bên liên quan trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất, cũng như đời sống, sinh kế của người có đất bị thu hồi được quan tâm và bảo đảm tốt hơn. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được bảo đảm và phát huy, nhất là trong sử dụng đất nông nghiệp.

Thị trường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất phát triển tương đối nhanh; thể chế, chính sách phát triển thị trường bất động sản và chính sách tài chính trong lĩnh vực đất đai từng bước được hoàn thiện. Chính sách ưu đãi về thuế, miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã góp phần quan trọng thu hút đầu tư, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế - xã hội khó khăn. Chính sách đất đai về nhà ở xã hội đạt được một số kết quả quan trọng. Khung giá đất và bảng giá đất được xây dựng theo quy định, có tính đến giá đất phổ biến trên thị trường.

Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và vi phạm pháp luật về đất đai có chuyển biến tích cực; nhiều vụ việc tham nhũng, vi phạm chính sách, pháp luật về đất đai được xử lý nghiêm minh.

Năng lực quản lý nhà nước về đất đai từng bước được nâng cao; hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý đất đai từng bước được kiện toàn. Cải cách hành chính trong lĩnh vực đất đai được coi trọng hơn. Việc đăng ký đất đai lần đầu, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đạt tỉ lệ cao. Cơ sở dữ liệu về đất đai bước đầu được quan tâm xây dựng.

Thị trường quyền sử dụng đất phát triển chưa ổn định, tiềm ẩn nhiều rủi ro

Mặc dù đã đạt được kết quả khá tích cực, song Nghị quyết 18 cho rằng, công tác quản lý và sử dụng đất còn nhiều hạn chế. Một số nội dung của Nghị quyết chưa được thể chế hoá hoặc thể chế hoá chậm, chưa đầy đủ; Luật Đất đai và một số văn bản pháp luật có liên quan còn chồng chéo, chưa thống nhất, đồng bộ. Trong một số trường hợp, chính sách, pháp luật về đất đai chưa theo kịp sự thay đổi nhanh chóng của thực tiễn.

Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các quy hoạch có sử dụng đất chưa bảo đảm tính tổng thể, thống nhất và đồng bộ. Chất lượng quy hoạch chưa cao, thiếu tầm nhìn dài hạn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững. Việc giao đất, cho thuê đất ở một số nơi còn nhiều bất cập, sai phạm. Việc giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở một số nơi còn chậm, hiệu quả chưa cao, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra.

Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất ở một số địa phương thực hiện còn chậm, chưa đúng Nghị quyết và các quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền lợi, đời sống và sinh kế của người có đất bị thu hồi, gây thất thoát ngân sách nhà nước. Chưa có cơ chế hữu hiệu và chưa kiên quyết xử lý các dự án chậm tiến độ hoặc không đưa đất vào sử dụng.

Thị trường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất phát triển chưa ổn định, minh bạch, bền vững, tiềm ẩn nhiều rủi ro; thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp chậm phát triển. Cải cách hành chính trong quản lý đất đai còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn; việc tiếp cận đất đai của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn khó khăn. Công tác đăng ký, thống kê đất đai, đặc biệt là đăng ký biến động đất đai chưa thực hiện nghiêm. Vẫn còn tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.

Năng lực quản lý nhà nước về đất đai chưa đáp ứng được yêu cầu. Cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin đất đai chưa được hoàn thiện. Tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và vi phạm pháp luật về đất đai còn diễn biến phức tạp; đơn, thư tố cáo về đất đai có xu hướng tăng; nhiều vụ việc chậm được xử lý, giải quyết, gây bức xúc xã hội…

Nghị quyết nêu rõ, nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém nêu trên chủ yếu là do chưa có sự thống nhất cao về nhận thức đối với một số vấn đề liên quan đến quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là về tầm quan trọng và ý nghĩa của sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

Chính sách, pháp luật về đất đai còn nhiều hạn chế, bất cập, chồng chéo, thiếu thống nhất, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, tạo kẽ hở để không ít cá nhân, tổ chức lợi dụng, tham nhũng, trục lợi, gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước… Những hạn chế này đã được Nghị quyết số 18 chỉ ra và cần phải có giải pháp khắc phục trong thời gian tới./.

V.T

Tin cùng chuyên mục

Infographics: 9 tháng đầu năm 2022 xuất khẩu dệt may tăng 21,6%

Infographics: 9 tháng đầu năm 2022 xuất khẩu dệt may tăng 21,6%

Trong 9 tháng đầu năm 2022, xuất khẩu của ngành dệt may ước đạt 35,3 tỷ USD, tăng 21,6% so với cùng kỳ năm 2021, đạt gần 80% kế hoạch xuất khẩu cả năm. Theo ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), dù tình hình đơn hàng sụt giảm, nhưng với sự năng động của các doanh nghiệp, khả năng cao kim ngạch xuất khẩu của ngành vẫn sẽ đạt được mục tiêu đề ra là 44 tỷ USD vào cuối năm 2022.
Kỳ vọng tăng trưởng GDP năm 2022 có thể đạt 8%

Kỳ vọng tăng trưởng GDP năm 2022 có thể đạt 8%

Dù nền kinh tế đã phục hồi mạnh mẽ, nhưng tăng trưởng 9 tháng đầu năm bình quân 3 năm 2020 - 2022 mới chỉ đạt 5,41%, chưa bù đắp để đạt được mức tăng trưởng tương đương cùng kỳ các năm trước dịch giai đoạn 2016 - 2019 (6,88%).
Nới tín dụng, giảm lãi suất tác động như thế nào tới doanh nghiệp, người dân?

Nới tín dụng, giảm lãi suất tác động như thế nào tới doanh nghiệp, người dân?

Theo Ngân hàng Nhà nước, vừa rồi, Ngân hàng Nhà nước phải điều chỉnh tăng lãi suất. Trước đó, Ngân hàng Nhà nước chịu nhiều áp lực điều chỉnh room tín dụng lên 15-16%, nhưng thực tế cho thấy việc Ngân hàng Nhà nước kiên định điều hành chính sách là đúng và trúng, được các tổ chức quốc tế đánh giá cao.
112,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong 9 tháng đầu năm 2022

112,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong 9 tháng đầu năm 2022

9 tháng năm 2022, cả nước có 112,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, với tổng số vốn đăng ký là 1.272,3 nghìn tỷ đồng, tăng 31,9% về số doanh nghiệp, tăng 6,4% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2021.
Việt Nam xếp vị trí 48 về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu 2022

Việt Nam xếp vị trí 48 về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu 2022

Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) vừa công bố Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2022, trong đó ghi nhận Việt Nam xếp vị trí 48/132 quốc gia, nền kinh tế, thuộc nhóm quốc gia đạt được những tiến bộ lớn nhất trong thập kỷ qua.

Tin khác

Infographics: Tổng sản phẩm trong nước quý III và 9 tháng năm 2022

Infographics: Tổng sản phẩm trong nước quý III và 9 tháng năm 2022

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2022 ước tính tăng khá cao ở mức 13,67% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,24%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,91%; khu vực dịch vụ tăng 18,86%.
9 tháng, vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt hơn 18,7 tỷ USD

9 tháng, vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt hơn 18,7 tỷ USD

Theo các chuyên gia, Việt Nam cần có sự cải thiện các tồn tại về môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng, chất lượng lao động... để thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh khó khăn hậu COVID-19, lạm phát nguy cơ lan rộng toàn cầu.
TP. Hồ Chí Minh: Ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực

TP. Hồ Chí Minh: Ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực

Qua 01 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 15 tháng 9 năm 2021 của Ban Chấp hành đảng bộ Thành phố về Kế hoạch tổng thể phòng, chống dịch COVID-19 và phục hồi kinh tế, bước đầu Thành phố ghi nhận các chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực.
Hà Nội quy định dự án đầu tư kinh doanh có sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch các cấp

Hà Nội quy định dự án đầu tư kinh doanh có sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch các cấp

UBND TP. Hà Nội đã ban hành Quyết định số 32/2022/QĐ-UBND quy định một số nội dung về quản lý dự án đầu tư kinh doanh có sử dụng đất của TP. Hà Nội. Trong đó, TP. Hà Nội yêu cầu các dự án đầu tư kinh doanh có sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh; quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng và các quy định pháp luật liên quan khác về quy hoạch.
"Đón sóng" đầu tư bất động sản khu công nghiệp

"Đón sóng" đầu tư bất động sản khu công nghiệp

Theo quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam, hiện có khoảng 563 khu công nghiệp (KCN), với tổng diện tích được bao phủ khoảng 210.900 ha. Tuy nhiên, một số KCN vẫn chưa hoạt động. Đến nay, số KCN thực tế đã công bố là 406, trong đó 361 dự án nằm ngoài khu kinh tế, 37 dự án thuộc các khu kinh tế và 8 dự án điện công nghiệp khác nằm trong khu kinh tế cửa khẩu. Tỷ lệ lấp đầy của các KCN tại Việt Nam hiện nay đạt 70,9%, tương đương với mức cuối năm 2020.
Từ ngày 26/8/2022, chính thức nâng cấp trang Thông tin điện tử về Tài sản công

Từ ngày 26/8/2022, chính thức nâng cấp trang Thông tin điện tử về Tài sản công

Thời báo Tài chính Việt Nam thông báo thực hiện nâng cấp trang Thông tin điện tử về Tài sản Nhà nước (TTĐTTSNN) tại địa chỉ (https://taisancong.vn) của Thời báo Tài chính Việt Nam.
Nhiều sửa đổi về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô công phù hợp với thực tế

Nhiều sửa đổi về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô công phù hợp với thực tế

Chủ trì Hội nghị trực tuyến với các bộ, ngành, địa phương về định hướng sửa đổi, bổ sung Nghị định số 04/NĐ- CP của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức, sử dụng xe ô tô, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc cho biết, dự thảo nghị định đang được Bộ Tài chính xây dựng có nhiều quy định được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tế hiện nay.
Cập nhật kịch bản điều hành giá chi tiết, kịp thời nhằm kiểm soát lạm phát

Cập nhật kịch bản điều hành giá chi tiết, kịp thời nhằm kiểm soát lạm phát

Trước diễn biến giá cả một số hàng hóa thiết yếu vẫn neo ở mức cao, các chuyên gia kinh tế đề nghị cơ quan quản lý cần tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp tăng giá bất hợp lý, ảnh hưởng tới mục tiêu điều hành lạm phát và đời sống của người dân.
Cải cách hành chính: Bộ Tài chính phấn đấu xử lý 1 hồ sơ trong vòng 30 phút

Cải cách hành chính: Bộ Tài chính phấn đấu xử lý 1 hồ sơ trong vòng 30 phút

Các cơ quan thuộc Bộ Tài chính xác định giảm thời gian tiếp nhận, xử lý hồ sơ tối thiểu 30 phút/1 hồ sơ vào năm 2025 theo Quyết định số 1865/QĐ-BTC phê duyệt Đề án Đổi mới việc tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa của Bộ Tài chính.
Đơn vị có từ trên 2.000 người được trang bị tối đa 6 xe ô tô phục vụ công tác chung

Đơn vị có từ trên 2.000 người được trang bị tối đa 6 xe ô tô phục vụ công tác chung

Dự thảo Nghị định quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô thay thế Nghị định số 04/2019/NĐ-CP cũng quy định về nội dung này trước đó đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến rộng rãi. Tại dự thảo nghị định đã quy định rõ về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô phục vụ công tác chung của đơn vị sự nghiệp công lập.
Xem thêm
Phiên bản di động