Phân cấp mạnh, đưa nguồn lực Chương trình mục tiêu quốc gia đến gần người dân
Địa phương quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 387/2026/NĐ-CP quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026–2035. Nghị định quy định từ mục tiêu, phạm vi, đối tượng, nguồn lực đến cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện, theo dõi và đánh giá Chương trình.
Một trong những nguyên tắc được đặt ra là phân cấp, phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương theo phương châm “địa phương quyết định, địa phương tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả”. Tuy nhiên, việc phân cấp phải bảo đảm không làm thay đổi quyền lợi, khả năng tiếp cận chính sách của đối tượng thụ hưởng, không làm giảm mức hỗ trợ tối thiểu theo quy định của cấp có thẩm quyền và phải thực hiện đầy đủ mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ của Chương trình.
Nghị định đồng thời yêu cầu đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tập trung nguồn lực thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Các địa bàn và đối tượng được ưu tiên ở mức cao nhất gồm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo; vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khó khăn; đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số; vùng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, có nguy cơ thiên tai cao và các địa bàn, lĩnh vực cần ưu tiên theo quy định của cấp có thẩm quyền.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Việc quản lý, sử dụng nguồn lực phải tuân thủ pháp luật về ngân sách nhà nước và các quy định liên quan, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục tiêu, đúng đối tượng hỗ trợ. Nghị định yêu cầu không để xảy ra trùng lặp, chồng chéo về đối tượng, địa bàn, nội dung giữa Chương trình với các chương trình, dự án, chính sách khác.
Cùng với đó, quá trình thực hiện phải công khai, minh bạch, bảo đảm quyền tham gia của người dân và cộng đồng dân cư, bình đẳng giới; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, theo dõi, giám sát và đánh giá. Hiệu quả Chương trình được xem xét trên cơ sở mức độ hài lòng và thụ hưởng thực tế của người dân.
Ba cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất
Nghị định quy định 3 cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất, gồm hỗ trợ liên kết theo chuỗi giá trị, hỗ trợ phát triển sản xuất cộng đồng và hỗ trợ phát triển sản xuất theo nhiệm vụ. Mỗi cơ chế có điều kiện, phương thức thực hiện và yêu cầu riêng.
Với dự án liên kết theo chuỗi giá trị, dự án phải xác định được kết quả về chỉ số tạo việc làm, mức tăng thu nhập và đóng góp đối với phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương theo kế hoạch năm và thời điểm kết thúc dự án. Chủ trì liên kết và các đối tượng liên kết phải có hợp đồng hoặc biên bản hợp tác về đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật, cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến, thu mua và tiêu thụ sản phẩm. Dự án còn phải đáp ứng điều kiện kỹ thuật theo quy định chuyên ngành, tỷ lệ tham gia của người dân thuộc đối tượng hỗ trợ và các điều kiện khác do UBND cấp tỉnh quy định.
Đối với dự án phát triển sản xuất cộng đồng, tổ, nhóm cộng đồng phải có thành viên có kinh nghiệm thực hiện dự án hoặc hoạt động phát triển sản xuất trên địa bàn. Hộ gia đình tham gia phải bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất, lao động, tư liệu sản xuất đáp ứng nội dung dự án và cam kết phần đối ứng thực hiện dự án; đồng thời đáp ứng điều kiện kỹ thuật, tỷ lệ tham gia của người dân theo quy định.
Phương thức hỗ trợ dự án cộng đồng có thể bằng hiện vật, cung ứng dịch vụ; hỗ trợ trực tiếp bằng tiền để tổ, nhóm cộng đồng triển khai hoạt động theo quyết định phê duyệt; hoặc kết hợp các phương thức này. Mức hỗ trợ tối đa cho mỗi dự án và định mức hỗ trợ đối với từng đối tượng tham gia do HĐND cấp tỉnh quy định. Cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án quyết định mức hỗ trợ cụ thể, nhưng không vượt mức tối đa đã được HĐND cấp tỉnh quyết định.
Trong khi đó, cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất theo nhiệm vụ được áp dụng trong những trường hợp Nghị định quy định. Chẳng hạn, cơ quan thực hiện đã xem xét khả năng áp dụng cơ chế liên kết theo chuỗi giá trị và cơ chế cộng đồng nhưng không huy động được doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức khác tham gia hoặc không có đề xuất từ cộng đồng dân cư. Cơ chế này cũng áp dụng với dự án hỗ trợ người dân chịu thiệt hại nặng nề do thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường hoặc hỗ trợ nhóm đối tượng yếu thế; dự án gắn với củng cố quốc phòng, an ninh, bình đẳng giới, bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu; và mô hình trình diễn khuyến nông mới, ứng dụng, chuyển giao, hoàn thiện, nhân rộng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, quy trình sản xuất mới.
Riêng đối với dự án thực hiện theo cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất theo nhiệm vụ, tối thiểu 70% tổng kinh phí dự án phải được bố trí để hỗ trợ trực tiếp người dân tham gia thực hiện hoạt động sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ. Khoản hỗ trợ trực tiếp được tính bằng tiền, hiện vật hoặc dịch vụ cung cấp trực tiếp cho người dân theo nội dung, mức hỗ trợ và dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tỷ lệ 70% được xác định trên tổng kinh phí dự án theo dự toán đã được phê duyệt.
Nghị định quy định ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 3 tỷ đồng cho một dự án theo cơ chế này. UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định định mức hỗ trợ cho một đối tượng người dân, hộ gia đình tham gia dự án hoặc tăng quy mô hỗ trợ vốn cho một dự án vượt 3 tỷ đồng, phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực của địa phương.
Tăng cường theo dõi, giám sát và đánh giá kết quả
Bên cạnh quy định về phân cấp và cơ chế hỗ trợ, Nghị định đặt ra yêu cầu xây dựng, nâng cấp, vận hành hạ tầng số và cơ sở dữ liệu của Chương trình; kết nối, chia sẻ, cập nhật và sử dụng dữ liệu theo quy định. Việc theo dõi, kiểm tra, giám sát và đánh giá được thực hiện theo khung kết quả, bộ chỉ số, tiêu chí, phương pháp, quy trình và biểu mẫu thống nhất áp dụng trong toàn Chương trình.
Các hoạt động theo dõi, kiểm tra, giám sát, khảo sát thực địa và đánh giá được tổ chức định kỳ hoặc đột xuất để xem xét kết quả thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ. Nghị định cũng quy định việc giám sát đầu tư của cộng đồng và khảo sát, lấy ý kiến về mức độ hài lòng của người dân đối với kết quả thực hiện Chương trình.
Đánh giá giữa kỳ và đánh giá kết thúc giai đoạn tập trung vào kết quả thực hiện mục tiêu, hiệu quả sử dụng nguồn lực, chất lượng sản phẩm đầu ra và tính bền vững của nhiệm vụ, dự án. Kết quả đánh giá là căn cứ phục vụ phân bổ, điều chỉnh, điều chuyển nguồn lực và xem xét trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định. Kết quả theo dõi, giám sát, đánh giá cũng được tổng hợp, công bố; các mô hình, sáng kiến, cách làm hiệu quả đã được đánh giá, công nhận được lựa chọn để phổ biến, nhân rộng.
Về trách nhiệm tổ chức thực hiện, Nghị định quy định vai trò của các bộ, cơ quan trung ương và chính quyền địa phương trong phạm vi được giao. Các cơ quan trung ương thực hiện những nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý, hướng dẫn và hệ thống dữ liệu dùng chung theo quy định; địa phương tổ chức thực hiện các hoạt động trực tiếp tại địa bàn và hỗ trợ người dân thuộc thẩm quyền, bảo đảm không trùng lặp nguồn kinh phí và nhiệm vụ.
Với các quy định này, Nghị định 387/2026/NĐ-CP của Chính phủ đã xác lập yêu cầu xuyên suốt trong triển khai Chương trình đó là: phân cấp gắn với trách nhiệm, nguồn lực tập trung đúng đối tượng, cơ chế hỗ trợ sản xuất theo từng hình thức và kết quả thực hiện được theo dõi, đánh giá theo tiêu chí thống nhất.
Tin khác
Năm 2027: Tăng tốc tạo nền tảng cho mô hình phát triển mới
Thị trường carbon cần hệ sinh thái tài chính đủ mạnh để trở thành động lực mới của nền kinh tế
Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu: Tăng trưởng phải được đo bằng giá trị thực chất
Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch triển khai Chiến lược dữ liệu quốc gia
Quy định mới về quản lý tài chính với chương trình, dự án tài chính vi mô
Chính thức triển khai xây dựng 42 chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam
Infographics: Tổng quan bức tranh ngân sách nhà nước 9 tháng năm 2026
Chi cục DTNN khu vực XV: Thần tốc xuất cấp gạo hỗ trợ học sinh Cà Mau và Cần Thơ
Ba trụ cột tiếp sức tăng trưởng trong quý cuối năm 2026
